Vi khuẩn và vi rút, phân biệt sự khác nhau giữa chúng

phân biệt vi khuẩn và vi rút

Vi khuẩn và vi rút đều là những sinh vật có kích thước cực nhỏ, không thể nhìn thấy bằng mắt thường và chúng đều có thể gây ra một số bệnh nhiễm trùng từ nhẹ đến nghiêm trọng. Tuy nhiên, hai loài sinh vật này có rất nhiều điểm hoàn toàn khác biệt nhau. Sự khác nhau giữa chúng là gì?



Phân biệt vi khuẩn và vi rút

>>>Xem thêm : Chuẩn bị thời gian cách ly Coronavirus, chúng ta cần gì?

Vi khuẩn

Ảnh minh họa vi khuẩn
Ảnh minh họa vi khuẩn

Vi khuẩn là những vi sinh vật nhỏ bé được tạo thành từ một tế bào hay còn gọi là sinh vật đơn bào, sinh sản vô tính độc lập với các sinh vật khác. Chúng rất đa dạng, có thể có nhiều hình dạng và đặc điểm cấu trúc khác nhau.Vi khuẩn thường lớn hơn nhiều so với vi rút và có thể được nhìn thấy dưới kính hiển vi quang học.

Vi khuẩn có thể sống hầu hết trong mọi môi trường, kể cả các môi trường khắc nghiệt nhất. Chúng có thể được tìm thấy tồn tại ở các sinh vật khác, trên bề mặt vô cơ, trên cơ thể con người, thậm chí cả bên trong dạy dày của động vật và con người.

Hầu hết các vi khuẩn đều không gây hại. Một số vi khuẩn còn đem lại lợi ích cho sức khỏe con người, ví dụ như các vi khuẩn nằm bên trong ruột để giúp tiêu hóa thức ăn. Chỉ một số ít vi khuẩn gây nhiễm trùng ở người. Những vi khuẩn này được gọi là vi khuẩn gây bệnh.

Vi rút

 Ảnh minh họa vi rút
Ảnh minh họa vi rút

Vi rút là một loại vi sinh vật nhỏ bé khác, có kích thước nhỏ hơn vi khuẩn dưới 1000 lần. Và cũng giống như vi khuẩn, chúng rất đa dạng, có nhiều hình dạng, cấu trúc khác nhau, chúng tồn tại được trong tất cả mọi môi trường.Vi rút chỉ có thể nhìn thấy được dưới kính hiển vi điện tử.

Về mặt sinh sản, vi rút hoàn toàn khác vi khuẩn, chúng không phải là một sinh vật có tế bào, chúng cần có một vật chủ như người hoặc động vật để nhân lên. Hay nói cách khác, vi rút là một ký sinh trùng, chúng tồn tại đòi hỏi phải có các tế bào sống hoặc mô khác để nhân rộng và phát triển.

Vi rút gây nhiễm trùng bằng cách xâm nhập và nhân lên bên trong các tế bào khỏe mạnh của vật chủ. Một số vi rút thậm chí giết chết tế bào chủ sau khi hoàn thành một vòng đời của chúng.

>>>Xem thêm : Người dễ tổn thương nhất với Coronavirus : họ gồm ai?


Sự khác nhau giữa đặc điểm cấu trúc vi khuẩn và vi rút

Cấu trúc của vi khuẩn

Vi khuẩn có cấu tạo là một sinh vật đơn bào (chỉ có 1 tế bào), tế bào này hiển thị đầy đủ tất cả các đặc điểm của một sinh vật sống. Cấu trúc của các tế bào vi khuẩn có chứa các bào quan và DNA nằm bên trong tế bào chất, được bao bọc bên ngoài là các thành tế bào. Các bào quan này thực hiện các chức năng quan trọng cho các tế bào vi khuẩn như lấy năng lượng từ môi trường và sinh sản.

Cấu trúc của vi rút

Vi rút không được xem là một tế bào, mà chúng tồn tại dưới dạng các hạt axit nucleic (DNA hoặc RNA) được bọc bên trong lớp vỏ protein.

Một số vi rút có thêm một màng bổ sung gọi là vỏ, bao gồm phospholipid và protein thu được từ màng tế bào của tế bào chủ bị nhiễm bệnh trước đó. Các màng bổ sung này sẽ giúp vi rút xâm nhập vào một tế bào mới bằng cách hợp nhất với màng của tế bào mới. Sau khi nhân lên, nó sẽ tạo thành một vi rút mới.

Một số loại vi rút không có vỏ bọc protein thì thường xâm nhập vào tế bào bằng cơ chế endocytosis (nhập bào) và nhân lên bằng cơ chế exocytosis (xuất bào) hoặc ly giải tế bào.

Các vi rút đều chứa các vật liệu di truyền, nhưng chúng không có thành tế bào hoặc các bào quan cần thiết để tái tạo năng lượng và sinh sản. Chúng sao chép, nhân lên hoàn toàn phải dựa vào vật chủ.


Kích thước, hình dạng của vi khuẩn & vi rút

Kích thước và hình dạng của vi khuẩn

Vi khuẩn có thể được tìm thấy trong nhiều hình dạng và kích thước khác nhau. Hình dạng tế bào vi khuẩn phổ biến nhất là hình cầu, hình que, xoắn ốc và Vibrio (cong – que). Đường kính vi khuẩn thường có kích thước từ 200-1000 nano mét (1 nano mét bằng 1 phần tỷ mét).

Tế bào vi khuẩn lớn nhất có thể nhìn thấy bằng mắt thường, được coi là vi khuẩn lớn nhất thế giới, là Thiomargarita namibiensis có thể đạt tới 750.000 nano met (0,75 mm) đường kính. Vi khuẩn này được phát hiện do công của nhà sinh vật học người Đức Heide Schulz.

Kích thước và hình dạng của vi rút

Kích thước và hình dạng của vi rút được xác định bởi lượng axit nucleic và lớp vỏ bọc protein mà chúng chứa.Vi rút thường có hình cầu (đa diện), hình que hoặc hình nón. Một số loại vi rút, chẳng hạn như thể thực khuẩn, có hình dạng phức tạp bao gồm cả việc bổ sung thêm đuôi protein gắn vào capsid (vỏ bên ngoài của protein) tạo thành các sợi đuôi kéo dài.

Vi rút nhỏ hơn rất nhiều so với kích thước đường kính của vi khuẩn. Chúng thường có kích thước đường kính từ 20-400 nano met. Các vi rút lớn nhất được biết đến cho đến nay trên thế giới, là vi rút pandora, có kích thước khoảng 1000 nano mét.


Cơ chế sinh sản của vi khuẩn và vi rút

Sinh sản của vi khuẩn

Vi khuẩn thường sinh sản vô tính bằng một quá trình được gọi là trực phân, hiện tượng phân chia nhân dẫn đến tạo thành các nhân con. Trong quá trình này, một tế bào duy nhất sao chép và phân chia thành hai tế bào con giống hệt nhau. Trong điều kiện thích hợp, vi khuẩn có thể trải qua sự tăng trưởng theo cấp số nhân.

Quá trình sinh sản của vi rút

Không giống như vi khuẩn, vi rút chỉ có thể sao chép với sự trợ giúp của tế bào chủ. Vì vi rút không có các bào quan cần thiết cho sự sinh sản của các thành phần vi rút, nên chúng phải sử dụng các bào quan của tế bào chủ để sao chép.

Trong quá trình sao chép của vi rút , vi rút sẽ tiêm vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA) vào tế bào. Các gen vi rút được sao chép và cung cấp các thông tin di truyền cho việc xây dựng các thành phần của vi rút. Sau khi các thành phần này được lắp ghép và hình thành các vi rút mới, chúng phá vỡ tế bào cũ và chuyển sang lây nhiễm các tế bào mới khác.




Quá trình lây nhiễm của vi khuẩn & vi rút

Cách vi khuẩn lây lan

Có nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn lây lan gây ra, điều đó có nghĩa rằng chúng có thể lây từ người sang người, cơ chế lây lan của vi khuẩn thông thường qua các đường sau :

  • Tiếp xúc gần gũi với người bệnh bị nhiễm vi khuẩn, như chạm vào thân thể hay hôn.
  • Tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh, đặc biệt là sau khi quan hệ tình dục, hoặc khi người nhiễm bệnh ho hay hắt hơi.
  • Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh.
  • Tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm, chẳng hạn như tay nắm cửa hoặc tay cầm vòi, sau đó chạm vào mặt, mũi hoặc miệng của mình.

Ngoài việc lây lan từ người sang người, vi khuẩn gây các bệnh về nhiễm trùng cũng có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, tiêu thụ thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng.

Cơ chế lây lan của vi rút

Vi khuẩn và vi rút đều có cách lây lan khá giống nhau, cũng như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiều bệnh do nhiễm bệnh từ vi rút cũng dễ lây lan. Chúng có thể lây từ người này sang người khác theo nhiều cách giống nhau, bao gồm :

  • Tiếp xúc gần gũi với người bệnh bị nhiễm do vi rút.
  • Tiếp xúc với các chất dịch cơ thể của người bị nhiễm vi rút.
  • Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh con.
  • Tiếp xúc với các bề mặt của vật liệu khác bị ô nhiễm vi rút.

Ngoài ra, tương tự như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiễm bệnh từ vi rút có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh hoặc thông qua việc tiêu thụ thực phẩm hoặc nguồn nước đã bị ô nhiễm.


Bệnh và điều trị bệnh do vi khuẩn và vi rút

Vi khuẩn và vi rút
Vi khuẩn và vi rút

Bệnh và điều trị bệnh do vi khuẩn

Trong khi hầu hết các vi khuẩn đều vô hại và thậm chí một số còn có lợi cho con người, thì một số vi khuẩn khác có khả năng gây ra nhiễm bệnh. Vi khuẩn có hại gây bệnh nhiễm trùng bằng cách tạo ra các độc tố để phá hủy tế bào. Chúng có thể gây ra các bệnh từ ngộ độc thực phẩm hoặc một số bệnh nghiêm trọng khác như viêm màng não, viêm phổi và lao. 

Các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gây ra có thể được điều trị bằng kháng sinh, các loại thuốc kháng sinh này rất hiệu quả trong việc tiêu diệt vi khuẩn. Tuy nhiên, nếu lạm dụng kháng sinh, một số loại vi khuẩn sẽ tăng sức đề kháng với chúng, dẫn đến kháng thuốc, ví dụ như vi khuẩn E.coli và MRSA. 

Một số vi khuẩn thậm chí còn được biết đến như là một loại siêu vi khuẩn vì chúng đã tăng sức đề kháng với rất nhiều loại thuốc kháng sinh khác nhau. Tiêm vắc-xin là một biện pháp hữu hiệu trong việc ngăn ngừa sự lây lan của các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra. 

Cách tốt nhất để bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm bệnh do lây lan từ vi khuẩn và các loại vi trùng khác là nên sử dụng đúng cách rửa tay và lau khô tay thường xuyên.

Một số bệnh được biết đến là do vi khuẩn gây bệnh gây ra :

  • Viêm họng liên cầu khuẩn
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI)
  • Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn
  • Bệnh da liễu
  • Bệnh lao
  • Viêm màng não do vi khuẩn
  • Viêm mô tế bào
  • Bệnh Lyme
  • Uốn ván

Bệnh và điều trị bệnh do vi rút

Trong lịch sử nhân loại đã có các đại dịch trên thế giới gây chết nhiều người do các mầm bệnh từ vi rút lây nhiễm và gây ra như : thủy đậu, cúm, bệnh dại, bệnh do vi-rút Ebola , bệnh Zika, HIV / AIDS, viêm phổi…và gần đây là đại dịch viêm phổi cấp Vũ Hán do vi rút Corona chủng mới tạo ra và có nguồn bệnh lây lan từ Trung Quốc.

Vi rút có thể gây nhiễm trùng dai dẳng trong một thời gian dài, trong đó có cả thời gian dường như chúng không hoạt động (thời gian ủ bệnh) và có thể được kích hoạt lại sau đó (khởi phát hoặc tái phát). 

Một số vi rút có thể gây ra những thay đổi cấu trúc bên trong của tế bào chủ và dẫn đến sự phát triển của ung thư. Những loại virus ung thư này được biết là gây ra các bệnh ung thư như ung thư gan, ung thư cổ tử cung và ung thư hạch Burkitt.

Thuốc kháng sinh không có tác dụng chống lại vi rút. Điều trị nhiễm vi rút thường liên quan đến các loại thuốc điều trị các triệu chứng nhiễm trùng do vi rút đó gây ra chứ không phải tiêu diệt bản thân vi rút đó. 

Thuốc kháng vi rút thường chỉ được sử dụng để điều trị một số loại bệnh nhiễm trùng do vi rút. Điển hình là loại thuốc nhằm giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của vật chủ để chống lại các triệu chứng do nhiễm trùng từ vi rút đó gây ra. Các bệnh truyền nhiễm từ vi rút cũng có thể được ngăn ngừa từ vắc xin.

Một số bệnh được biết đến là do vi rút gây ra :

  • Cúm
  • Cảm lạnh thông thường
  • Viêm dạ dày ruột
  • Thủy đậu
  • Bệnh sởi
  • Viêm màng não do vi rút
  • Mụn cóc
  • Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV)
  • Viêm gan do vi rút
  • Vi rút Zika
  • Siêu vi trùng Tây sông Nile



Bảng tóm tắt phân biệt giữa vi khuẩn và vi rút

Đặc điểmVi khuẩnVi rút
Loại tế bàoSinh vật đơn bàoSinh vật không có tế bào
Kích thước 200 – 1000 nano mét20 – 400 nano mét
Các tế bào có thể bị nhiễmĐộng vật, thực vật, nấmĐộng vật, thực vật, động vật nguyên sinh, nấm, vi khuẩn, Archaea (vi khuẩn cổ)
Cơ chế sinh sảnPhân chia tế bàoDựa vào tế bào chủ
Một số loạiE.coli , 
Salmonella,
Listeria,
Mycobacteria, 
Staphylococcus,
Bacillus anthracis
Vi rút cúm,
Vi rút thủy đậu,
HIV,
Vi rút bại liệt,
Vi rút Ebola
Vi rút Corona
Điều trịThuốc kháng sinhThuốc kháng vi rút

Một số sách giúp ích cho các bạn trong phòng ngừa và tự chữa bệnh :

XEM THÊM SÁCH VỀ BỆNH KHÁC

Các bài có thể bạn quan tâm :



Share:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *