Nhiễm độc thủy ngân : nguyên nhân, triệu chứng, điều trị

nhiễm độc thủy ngân gây ra nhiều tác hại đối với sức khỏe con người

Nhiễm độc thủy ngân là trạng thái cơ thể khi chúng ta hít phải, tiếp xúc hoặc nuốt phải nguyên tố kim loại này. Tình trạng này được phân biệt ở mức độ cấp tính hoặc mãn tính, tùy thuộc vào loại tiếp xúc xảy ra với thủy ngân. Tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị nó để ngăn chặn nó trở nên tồi tệ hơn.



Thủy ngân là gì?

Thủy ngân là một nguyên tố hóa học, một kim loại nặng, phổ biến trên trái đất, có ký hiệu trong bảng tuần hoàn hóa học là Hg. Số nguyên tử của nó, nghĩa là, tổng số proton mà nó có, là 80. Nó có điểm sôi là 357 ºC và mật độ 13,5 g / ml.

Nguyên tố này là kim loại duy nhất ở trạng thái lỏng ở nhiệt độ phòng. Nó là một chất lỏng màu bạc sáng bóng nhìn thấy trong nhiệt kế để đo nhiệt độ hàng ngày. Nó cũng là chất duy nhất phản ứng với vàng (hỗn hống). Nó dễ dàng phân tán khi bay hơi.

Các hợp chất thủy ngân được hình thành khi thủy ngân phản ứng hóa học với các nguyên tố khác trong bảng tuần hoàn. Ví dụ, clo, lưu huỳnh và oxy, trong hầu hết các trường hợp, hợp chất tạo thành dưới dạng bột trắng hoặc tinh thể.

Đối với hợp chất thủy ngân hữu cơ, nó được hình thành khi kết hợp thủy ngân với carbon. Hợp chất thủy ngân hữu cơ nổi tiếng nhất là methylmercury, được tìm thấy trong nước và đất. Hợp chất này có thể tích lũy trong cá và có thể gây độc tính.

Chính vì có độc tính cao nên thủy ngân có thể gây ra các tình trạng nhiễm độc nghiêm trọng. Giống như tất cả các kim loại nặng khác, nó có thể liên kết với protein enzyme bằng cách ức chế hoạt động của các enzyme này và hậu quả là làm hỏng và chết tế bào.

Thủy ngân cũng là một nguyên tố dẫn nhiệt kém. Tuy nhiên, nó là một chất dẫn điện tốt.

Nhiều công dụng của nó bắt nguồn từ các đặc tính này, chẳng hạn như nó được sử dụng làm công tắc điện trong ngành công nghiệp điện. Nó cũng được sử dụng trong chế tạo bơm khuếch tán hoặc trong sản xuất các bộ chỉnh lưu hơi thủy ngân.

Nguyên nhân nhiễm độc thủy ngân

Cá là thực phẩm gây ra nhiễm độc thủy ngân nhiều nhất
Cá là thực phẩm gây ra nhiễm độc thủy ngân nhiều nhất

Nhiễm độc thủy ngân là tình trạng cơ thể được xác định là hậu quả của việc sử dụng thủy ngân dưới dạng các hợp chất của nó như muối, nitrat, clorua hoặc sunfua thủy ngân.

Nguồn tiếp xúc quan trọng nhất ở thực phẩm là cá, tuy nhiên, thực vật và gia súc cũng có thể chứa kim loại này. Lý do là các thực phẩm này hấp thu thủy ngân được tích lũy trong đất, nước và khí quyển, hoặc cũng có thể là từ chất thải công nghiệp.

Xem xét hết các nguyên nhân gây ra ngộ độc thủy ngân :

1, Trám răng

Trám răng thường bằng hợp kim có chứa thủy ngân. Ngay cả khi loại bỏ các chất trám này, cũng có thể là nguyên nhân gây ra nhiễm độc thủy ngân. Các nhân viên y tế tham gia vào phương pháp điều trị này cũng có nguy cơ cao bị ngộ độc.

2, Nông sản bị ô nhiễm

Thủy ngân là thành phần thiết yếu của nhiều sản phẩm diệt nấm được sử dụng trong công nghiệp. Các loại trái cây, hoa màu dễ bị nhiễm từ nguồn thuốc diệt nấm này.

3, Nguồn nước

Chất thải công nghiệp có chứa thủy ngân dễ dàng gây ô nhiễm các tầng chứa nước thông qua hệ thống cống rãnh kết nối với các nhà máy công nghiệp.

Một vấn đề có thể tồi tệ hơn làm nguồn nước bị ô nhiễm là các chất khử trùng hồ chứa như thuốc diệt nấm và algaecide cũng chứa thành phần hóa học có mặt của nguyên tố thủy ngân.

4, Cá

Đặc biệt là ở những con cá lớn ở đầu chuỗi thức ăn như cá ngừ, cá kiếm, cá mập.

Chất thải công nghiệp có chứa các kim loại nặng trong đó có thủy ngân và đổ ra sông đến biển. Và tại đây, thủy ngân được hấp thụ bởi các vi khuẩn lắng đọng trong tảo biển. Các con cá nhỏ ăn tảo, thì cơ thể chúng sẽ tích lũy thủy ngân trong các tế bào của nó.

Khi cá nhỏ trở thành 1 thành phần trong chuỗi thức ăn của các con cá lớn thì thủy ngân sẽ ngày càng tích tụ nhiều bên trong cơ thể của các con cá lớn hơn.

5, Chất khử trùng

Các chất khử trùng dùng trong y tế cũng được cấu tạo từ thành phần có chứa thủy ngân, ví dụ như crôm thủy ngân.

6, Các chất tẩy rửa

Các chất tẩy rửa như chất tẩy làm trắng và chất làm mềm vải cũng là nguồn gây ra nhiễm độc thủy ngân vì các phân tử của nó cũng chứa thành phần hóa học của nguyên tố kim loại này.

7, Thuốc nhuận tràng : cũng là một nguồn khi sử dụng dễ dẫn đến ngộ độc thủy ngân.

8, Thuốc lợi tiểu : ví dụ như thiazide

9, Thuốc khử trùng cho kính áp tròng : cũng là một nguồn có sự hiện diện của thủy ngân.

Các trường hợp bị nhiễm độc thủy ngân

Nhiễm độc thủy ngân được chia làm 2 trường hợp nhiễm độc chủ yếu :

1, Nhiễm độc cấp tính

Thời gian xảy ra loại nhiễm độc này có thể diễn ra tại một thời điểm bất kỳ khi cơ thể tiếp xúc một lượng lớn thủy ngân đột ngột.

2, Nhiễm độc mãn tính

Đây là trường hợp bị ngộ độc thủy ngân liên tục diễn ra trong một thời gian dài. Thủy ngân được tích tụ trong cơ thể qua những lần tiếp xúc thường xuyên với số lượng nhỏ được tích lũy theo thời gian.

Trường hợp này cũng có thể được coi là một bệnh nghề nghiệp khi làm trong môi trường ô nhiễm thủy ngân, ví dụ công nhân các nhà máy công nghiệp hoặc cũng có thể là sử dụng các thực phẩm từ nguồn cung cấp bị nhiễm thủy ngân kéo dài.

Và cũng có thể là do bị đầu độc bằng cách là cho người bị nhiễm sử dụng nguồn thức ăn thức uống có nhiễm thủy ngân với lượng rất nhỏ trong thời gian dài.

Các cách thức dẫn đến ngộ độc thủy ngân

1, Bằng cách tiếp xúc qua da : tức là khi da tiếp xúc trực tiếp với kim loại thủy ngân, trường hợp này rất hiếm xảy ra để gây ngộ độc.

2, Bằng cách hít phải hơi thủy ngân qua đường hô hấp, thủy ngân là một chất rất dễ bay hơi ở nhiệt độ bình thường của phòng, và hơi của nó có độc tính rất cao.

3, Bằng cách tiêu thụ qua đường ăn uống

Cơ thể sẽ bị ngộ độc thủy ngân khi sử dụng thực phẩm qua đường tiêu hóa. Cách này có thể hình dung theo một chuỗi gây ra như sau :

Không khí và chất thải công nghiệp làm ô nhiễm đất và nước, do tác động từ một loại vi khuẩn kỵ khí, nó tạo thành một chất cực độc, được gọi là methylmercury, chất này sẽ có mặt trong sự hình thành chuỗi thức ăn của các sinh vật.

Đầu tiên là methylmercury nhiễm vào các sinh vật phù du, và nó được tích tụ trong cơ thể các sinh vật nhỏ ví dụ như cá nhỏ, từ đây nó sẽ truyền sang các động vật ăn thịt lớn hơn.

Nồng độ thủy ngân cứ tăng dần theo chiều dài của chuỗi thức ăn và con người là sinh vật cuối cùng hấp thụ nguồn ô nhiễm này từ hệ thống tiêu hóa trong cơ thể mình.

4, Bằng cách truyền từ mẹ sang con khi mang thai

Nhiễm độc thủy ngân có thể truyền từ thai phụ (nếu bị nhiễm) sang thai nhi qua nhau thai, và tình trạng này có thể gây ra các tổn thương ở não bộ của đứa bé.

5, Bằng cách truyền từ mẹ sang con khi cho bú : sữa của người mẹ bị nhiễm độc thủy ngân cũng sẽ truyền sang trẻ sơ sinh khi cho con bú.



Các triệu chứng hay dấu hiệu khi cơ thể bị ngộ độc thủy ngân

Thủy ngân gây ra nhiều tác hại đối với sức khỏe con người. Các tác hại có thể thấy như tổn thương hệ thần kinh, não và thận , kích thích phổi và mắt, phản ứng da, gây nôn mửa và tiêu chảy có thể xuất hiện.

Xem xét cụ thể các triệu chứng hay dấu hiệu của tình trạng này như sau :

1, Triệu chứng do nhiễm độc thủy ngân cấp tính

Ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa :

  • Đau bụng.
  • Nôn mửa.
  • Tiêu chảy.
  • Viêm nướu.
  • Viêm nướu dễ chảy máu.

Ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn : có thể dẫn đến tắc nghẽn hay rối loạn lưu thông máu.

Ảnh hưởng đến hệ hô hấp : có thể gây viêm phổi dẫn đến phù nề, xơ hóa bằng cách là các mô phổi bị thay thế bằng các mô xơ.

Ảnh hưởng đến hệ thần kinh :

  • Run rẩy.
  • Dễ bị kích động.
  • Quá mẫn cảm.
  • Mất độ nhạy cảm.
  • Rối loạn trương lực cơ
  • Liệt.
  • Dễ nhầm lẫn, đãng trí.

Ảnh hưởng đến thận : như ngừng nước tiểu, suy thận cấp.

Ảnh hưởng đến da : gây dị ứng da, kích ứng da, sạm, nhăn da.

Ảnh hưởng đến gen : nhiễm độc thủy ngân cũng có thể gây ra thiệt hại nhiễm sắc thể, DNA, làm biến đổi gen.

Ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản : ngộ độc thủy ngân cũng có thể làm tổn thương tinh trùng, dễ gây ra các dị tật cho thai nhi, hay dễ sảy thai.

2, Triệu chứng đối với nhiễm độc thủy ngân mãn tính

Ngoài các triệu chứng như ở trường hợp cấp tính thì ở trường hợp mãn tính về lâu dài sẽ gây ra tình trạng tồi tệ hơn, đặc biệt là nó gây tác hại nặng nề đối với hệ thần kinh trung ương, rồi dần dần chuyển sang các cơ quan bộ phận khác.

Rối loạn tâm lý :

Ở trường hợp nặng hơn nó có thể gây ra tình trạng lo lắng và mệt mỏi kéo dài, gây ra trầm cảm, khó khăn trong các quan hệ xã hội, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, bứt rứt, khó chịu, trở ngại trong việc sử dụng ngôn ngữ và lựa chọn từ ngữ, sa sút trí nhớ trầm trọng.

Rối loạn thực thể :

Trường hợp này gây ra tình trạng run rẩy nặng như bệnh Parkinson, viêm nướu, viêm vòm họng, ban đỏ da, đau nhức ở chân tay và tại các khớp, tăng nguy cơ về vấn đề thần kinh của thai nhi cũng như trẻ sơ sinh, tăng tỉ lệ gây sảy thai.



Cách chẩn đoán bị nhiễm độc thủy ngân

Việc chẩn đoán tình trạng này tùy thuộc vào lịch sử y tế của bệnh nhân và các phân tích về dấu hiệu cũng như những triệu chứng mắc phải.

Ngoài ra, người ta cũng thực hiện một loạt các xét nghiệm để xác định cơ thể có bị ngộ độc thủy ngân hay không, các xét nghiệm này bao gồm :

Xét nghiệm tóc :

Kiểm tra tóc hay mineralogram, là một xét nghiệm để kiểm tra định lượng các kim loại nặng tồn tại trong tóc, vì tóc là bộ phận tập trung chứa kim loại nặng nhiều hơn trong máu.

Xét nghiệm nước tiểu :

Là một xét nghiệm đặc biệt để đo lượng thủy ngân được bài tiết qua nước tiểu sau khi sử dụng chất tạo chelat (là một chất có khả năng liên kết và loại bỏ kim loại nặng ra khỏi cơ thể).

Nếu sự bài tiết thủy ngân chứa trong nước tiểu là đáng kể, thì có thể kết luận là có sự tích tụ của kim loại này bên trong cơ thể.

Điều trị nhiễm độc thủy ngân như thế nào?

Một trong những đặc tính mà tất cả các kim loại nặng đều có là thời gian bán rã trong cơ thể con người rất dài. Vì vậy, những tác hại do ngộ độc thủy ngân là không thể khắc phục. Tuy nhiên, việc điều trị sẽ phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng bị nhiễm này ở từng người.

Sau khi làm tất cả các xét nghiệm và xác định chắc chắn rằng cơ thể đã bị nhiễm thủy ngân, thì việc đầu tiên là nhanh chóng đưa người này ra khỏi nguồn gây nhiễm, tức là loại bỏ các nguyên nhân tiếp tục gây ngộ độc thủy nhân.

Trong trường hợp nhiễm độc cấp tính bằng cách uống thủy ngân, thì sẽ thực hiện việc rửa dạ dày để nhanh chóng làm sạch dạ dày và loại bỏ các chất độc hại ra ngoài trước khi nó đi vào cơ thể.

Đối với trường hợp nhiễm độc mãn tính thì điều trị bằng liệu pháp thải kim loại nặng. Phương pháp điều trị này là vô hiệu hóa các kim loại nặng bằng chất chelator.

Chelator là một chất tạo thành phức chất với các ion kim loại nặng, vô hiệu hóa chúng và ngăn chúng tích tụ và gây ra các tác động có hại, bao gồm :

  • DMSA hoặc dimercaptosuccinic acid: đây là loại duy nhất được chấp thuận sử dụng ở trẻ em và được sử dụng rộng rãi nhất.

  • DMPS hoặc axit 2,3-dimercapto-1-propanesulfonic.

  • BAL hoặc dimercaprol.

Sau khi sử dụng các chất này, quá trình loại bỏ thủy ngân được thải tự nhiên ra ngoài cơ thể bằng đường bài tiết.

Ngoài ra, còn có thể điều trị nhiễm độc thủy ngân bằng các chất tự nhiên đóng vai trò như chất thải ví dụ như coriander (rau mùi, hay ngò) để thu giữ độc tố của các tế bào. Nên dùng chung với tảo lục chlorella (tảo tiểu cầu) để thu giữ độc tố trong ruột và trục xuất nó ra ngoài.

Các bài viết khác có thể bạn quan tâm :

Share:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *